Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

Không hàng phục số phận

Không có nhận xét nào :

Dẫu biết bệnh hoạn không chừa ai bao giờ và lời khuyên của bác sĩ, bác sĩ với bệnh nhân trong mọi trường hợp là hãy tự tín và luôn lạc quan sẽ thắng lợi bệnh tật. Nói như vậy song thực tế để vượt qua nạn "tật ách" của thế cuộc quả là điều không đơn giản đối với nhiều người. Trong trường hợp bác sĩ - đại tá TS. Lê Bảo Toàn cũng không ngoại lệ khi ông hay tin mình bị ung thư vòm họng. Nhưng cũng chính trong thời điểm này, áp dụng sự anh dũng của một người quân nhân, sự trải nghiệm của một người lương y - bệnh nhân Lê Bảo Toàn đã chứng minh: bệnh tật, dẫu là những căn bệnh nan y và khó chữa như ung thư vẫn có khả năng chữa khỏi nếu như bạn có nghị lực vươn lên…….
Xin trân trọng giới thiệu loạt bài về vị lương y - người mắc bệnh đặc biệt này và biện pháp vượt qua căn bệnh tị của ông nhằm phần nào gợi cho bạn đọc và giúp cho người mắc bệnh tham khoả một hướng điều trị bệnh ung thư tích cực có an toàn.

Kỳ 1: Án Treo………

Cho đến giờ, trải qua bao thăng trầm của thế cuộc, bác sĩ - đại tá Lê Bảo Toàn vẫn chưa thể hiểu hết ý nghĩa của cái tên mà bố mẹ đã đặt cho ông. phải chăng "Bảo Toàn" nghĩa là định mệnh không đổi: tồn tại phải đấu tranh, phải sống!

Sinh ngày 25/5/1947, tại làng Ché (nay thuộc xã Dỵ Chế, Tiên Lữ, Hưng Yên) - mảnh đất vùng chiêm chũng nghèo đã sinh ra vị danh tướng Đề Thám với biệt danh "Hùng Thiêng Yên Thế" huyền thoại thời kỳ đầu chống Pháp và trước đó cũng là địa danh mà vua Ngô Quyền đã từng chọn làm nơi dấu cọc chuẩn bị cho cuộc đại chiến trên sông Bạch Đằng, cắm mốc quan trọng trong lịch sử chống ngoại xâm che chở nhà nước của dân tộc ta….. bác sĩ Lê Bảo Toàn đã sớm thừa hưởng tinh thần quật khởi của người dân nghèo nơi đây.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, mới lên 6 tuổi, chú bé Bảo Toàn đã phải sớm xa nhà đi làm người ở cho một gia đình ở Nam Hà. Hai năm sau cái tin bố chết oan trong cải cách ruộng đất vì biết tiếng Pháp nên bị tình nghi là Quốc dân Đảng (trong khi chúng ta đều đi hoạt động cách mệnh) mới đến được với cậu bé Toàn….. Bỏ việc làm ở đợ, Bảo Toàn về quê theo người anh thứ hai Lê Năng Nhượng thầy giáo để đi học. "Chẳng biết có phải vì thừa hưởng cái gien của ông nội vốn là một thầy lang chữa bệnh và ông ngoại làm nghề dạy chữ nho mag năm 1964, tôi đã thi đõ trường Đại học Y - Dược Hà Nội trong cái thời "Nhất y, nhì dược, tạm được bách khoa, sư phạm cho qua, nông lâm vứt xó". Trong thời gian đó trường đã cử 16 sinh viên giỏi sang học tại Đại học Tông hợp (chuyên ngành Toán, Lý, Hoá) rồi sau về làm cán bộ giảng dạy Đại học Y khoa Hà Nội. Riêng tôi được cắt cử làm cán bộ giảng dạy xem xét của "Đơn vị nghiên cứu y học phóng xạ" (Chủ nhiệm là GS.TS Phan Văn Duyệt), tiền thân của bộ môn y khoa hạt nhân và Ung bướu sau này". Còn tại bệnh viện Bạch Mai, tôi được giao nhiệm vụ chính là ứng dụng năng lượng nguyên tử ĐVPX vào chuẩn đoán, điềảntị bệnh. thế cuộc những tưởng vừa lòng với những gì đã định. Song trước lời kêu gọi của tổ quốc "cảm tử cho sơn hà quyết sinh", chàng trai Bảo Toàn đã tạm rời chiếc áo trắng của người lương y, chia tay bệnh viện, khoác ba lô và cầm súng ra mặt trận làm nhiệm vụ vinh quang của người thanh niên chí khí lúc bấy giờ là đấu tranh giành độc lập và thống nhất nước nhà.

"Thôi nhé phía sau xin gửi lại
Đại học Quân y một mái trường
Nhớ thầy điểm bận tà áo trắng
Giáo án mài đêm mái tóc sương".

Rời tay súng người lính Lê Bảo Toàn tiếp tục làm nhiệm vụ người bác sĩ, sau này là người giáo viên đứng trên bục giảng. Từ những ngày giảng dạy ở Bình Trị Thiên, Đại học y TP Huế, công tác ở Bệnh viện Chợ Rẫy, đại học y Tp Hồ Chí Minh rồi cho đến những tháng năm tiếp tục đi tu nghiệp ở ngoại quốc nâng cao tay nghề nơi xứ tuyết lạnh giá với ước mơ:

"Xa nhau như hẹn ngày trở lại
Khói lửa đã qua, đất nước yên ổn
Giảng đường xưa, thầy trò xây Trường - Viện
Ươm tiếp mai sau những mầm xanh".

Trở về nước, thầy thuốc Toàn được cắt cử công tác tại bệnh viện Quân y 103. Những tưởng, cuộc sống sẽ bình an cho đến ngày ông nghỉ hưu. Nhưng rồi cuộc đời không ai lường được chữ "ngờ". Ngày 4/9/1995, tôi đã được Viện tai mũi họng - bệnh viện K xác chuẩn sinh thiết làm phẫu thuật bệnh lý cho hay: tôi bị ung thư vòm họng. lúc đó, mọi thứ trong tôi đều đảo lộn, tôi sững sờ giữa cái sống và cái chết đang cận kề rình rập. Một cảm giác thật khó tả lại xuất hiện tương tự cảm xúc của người lính trước giờ nổ súng xung trận mà tôi và những người lính từng tham dự chiến tranh đó trải qua" – bác sĩ Toàn tâm tư.

" Khi có kết quả xét nghiệm, tôi không đến lấy mà nhờ con gái đến Bệnh viện K lấy thành quả xét nghiệm, GS. Đức giám đốc bệnh viện K bạn tôi nói chưa có kết luận vì chưa rõ….."

Kỳ 2:     "TIN DỮ" tháp canh XA

Thế rồi cái tin dữ đã được kết luận xác thực: tôi bị ung thư vòm họng, căn bệnh từng cướp đi sinh mạng của danh họa Bùi Xuân Phái, buộc ông để lại nhiều tuyệt tác về phố cổ còn dang dở. 

Vì có thời gian dài làm giáo viên, thầy thuốc dạy ở nhiều trường Đại học Y, bệnh viện của dân và quân đội, cả Bắc, Trung, Nam, cả ở trong và ngoài nước, nên chuyện tôi bị ung thư hiểm nghèo lan đi rất nhanh, rất xa. Ai cũng thầm hiểu, bị ung thư có khác gì bị tử thần "ký lệnh bắt". Thế là những lời chia buồn, những chuyến thăm hỏi đầy xót thương như "vĩnh biệt" dập dồn đến. 

cả nhà, anh em họ hàng từ nhà quê kéo lên, chúng ta đã sụt sùi khóc. Bè bạn đồng nghiệp từ các trường, viện khắp nơi đến bí quyết, bệnh nhân của khoa tôi đang chữa trị rồi đến các em sinh viên, hàng xóm đông đủ. Ai về cũng ngậm ngùi cố nắm chặt tay "người sắp chết", muốn đôn đốc trong sự vô vọng. 

Ban giám đốc BV 103; rồi gia đình BS Ngô Minh Hải - GĐ Bệnh viện thần kinh Hà Nội; GS. TS Khoa học Phạm Manh Hùng (sau này là Thứ trưởng thường trực Bộ Y tế) đích thân đến hỏi thăm. GS.TS. Phan Văn Duyệt chủ nhiệm bộ môn Khoa y khoa hạt nhân Đại học Y Hà Nội, đi xe máy từ Hà Nội vào. Lần đầu tiên thấy con người cứng rắn nghị lực cả đời ấy không ngăn được nước mắt khi nhìn tôi. GS.TS Khoa học Lê Thế Trung - Giám đốc Học viện Quân y thì đến với vẻ hốt hoảng:
- Lê Bảo Toàn đâu? Đã uống Phylamin chưa?
- Uống rồi, 6 viên chia 2 lần!- Tôi đáp.
- Uống nữa! 16, 18 viên chia 2 lần.

Tôi ngạc nhiên, vì thuốc Phylamin - một loại thuốc hỗ trợ chữa trị ung thư - đang thử nghiệm lại có liều đặc biệt riêng như vậy. tuồng như tôi vẫn còn chút may mắn, vì lúc bấy giờ đúng vào GĐ tiến hành ứng dụng thuốc Phylamin trên người mắc bệnh. Và theo biện pháp điều trị này, tôi vẫn thường dùng thuốc Phylamin từ đó cho đến nay đã 15 năm như một sự hỗ trợ đắc lực cho việc điều trị căn bệnh của tôi. Như tôi được biết thuốc Phylamin hỗ trợ điều trị ung thư đã được Bộ Y tế cấp giấy phép và đề tài nghiên cứu về Phylamin của GS. TS KH Lê Thế Trung hiện nay đã được chuyển giao công nghiệp cho công ty CP dược TW Mediplantex sản xuất, lưu hành với tên biệt dược trên thị trường là Mediphylamin.  Tôi cũng biết thông tin rằng hiện tại một số bệnh nhân mắc bệnh như tôi ở một số bệnh viện vẫn được công ty Mediplantex hỗ trợ thuốc Mediphylanmin để điều trị và tôi cũng mừng vì họ cũng đã có những biểu hiện hăng hái.

          (Còn tiếp)

Kỳ 3:      PHẢI VƯỢT

Tôi tự nhủ mình cần tranh thủ thời gian, không thể ngồi chờ chết, phải tin tưởng, hy vọng. Và thực tế là tôi không cô đơn. Hơn lúc nào hết, phải vượt lên số phận, tôi tin vào khoa học, vào bác sĩ, vào sự hỗ trợ, cách làm của cộng đồng.

Lúc này, cả nước chưa có máy xạ trị gia tốc, kể cả Bệnh Viện K Trung ương cũng chỉ có máy Cobalt -60. Máy tôi vào chữa trị Tia Xạ ở Bệnh viện K là của "Hội Tầm Nhìn tất cả các nước" tặng. thầy thuốc Bùi Công Toàn - chủ nhiệm khoa xạ trị Bệnh Viện 103 – là đồng nghiệp, đã cổ động tôi và dặn dò kĩ thuật phục vụ, kĩ sư trưởng Nguyễn Văn Cử đã cho tôi biết tính năng tác dụng của máy xạ trị mới.

hình như lượng người mắc các bệnh về ung, bướu là khá lớn. Bệnh viện K43 - Quán sứ, chật chội trước quan tâm thực tế, người mắc bệnh rất sầm uất, xe không có chỗ để. GĐ bệnh viện 103 Trần Mạnh Chí đã cho ô tô vào hàng ngày chở tôi đi về trong suốt tiến trình chữa trị, còn GĐ bệnh viện K PGS. TS Nguyễn Bá Đức viết giấy cho ban bảo vệ ưu tiên cho phép tôi đỗ xe trước sân bệnh viện. Sự để ý vồn vã của chúng ta, khiến tôi rất cảm động và yên tâm hơn. Tôi nhận được sự ưu ái rất tình người mà suốt đời tôi chẳng thể quên được.

Ngày trước hết, bước vào phòng xạ trị, tôi nằm lên bàn máy cao chông chênh, tiếng máy rè rè đi lại , đèn phòng tắt. Ánh sáng tia Laser định vị toạ độ sao cho đúng kích cỡ khối ung thư cần tiêu diệt, đầu tàu to tròn từ từ lia quay tròn dọi tìm tia sao cho xác thực, bóng mù mờ của kĩ thuật viên di chuyển, trong tâm cảnh thật khó tả, tôi nhắm mắt xuôi tay, một cảm xúc thật khó tả đột nhiên xuất hiện. Tôi chỉ biết tuân theo y lệnh.

Chuẩn máy xong, anh kĩ thuật viên đi ra, cánh cửa chì đóng lại, một mình tôi nằm trơ, toàn bộ phòng im phắc. Kĩ thuật viên từ phòng điều khiển bên ngoài bấm công tắc cho máy làm việc. Tiếng máy rè rè mở đĩa Pharm, lại im lặng, chắc tia đang bắn. Tôi mệt.

Lúc ấy thực tình muốn ngủ để mặc mọi chuyện diễn ra nhưng đâu có giản dị được như vậy. Sự căng thẳng thôn tính, những ý nghĩ vơ vẩn cứ thay nhau xuất hiện. Nếu phải chết, nằm dưới đất một mình liệu có cô quạnh như thế này không. thầy thuốc là bệnh nhân thì lại càng phải nghiêm chỉnh chữa bệnh, bác sĩ phải biết tự cứu mình hơn bệnh nhân chứ, giống như đi cứu người chết đuối thì phải biết bơi giỏi, không thể lại chết trước người gặp nạn. Những lập luận tự hỏi và trả lời ấy cứ lai rai, đay nghiến tôi cho đến khi cửa mở, anh KTV đã đến tự lúc nào: "Xin mời bác xuống, ngày mai nhớ đến và mang theo giấy hẹn". 

Tôi loay hoay từ giường máy bước xuống bậc thang chuyệnh choạng muốn ngã. Đúng là "đứng trước vành móng ngựa khó hơn làm quan toà". Được một giai đoạn, tôi xin được chữa trị ngoại trú, tia và nhận thuốc xong tôi lại trở về phòng Chủ nhiệm khoa của Viện 103 nằm. Tôi xin không điều hành việc làm của khoa, nghỉ tĩnh dưỡng suốt thời kỳ chữa bệnh.

Kỳ 4 :      "GẶP THUỐC…."

Trong giai đoạn tia xạ có rất nhiều thông báo báo chí của bằng hữu và tiếp thị thuốc đưa đến, những bài thuốc "Thiên tiên" Linh Chi Bảo, giun đất, Anticancerlin... của Trung Quốc, thuốc Aslem đai học dược, TFX, Cycloforon, Mocrea, tam thất, Taxon, lá thông đỏ, xạ đen Spirulina, lá đu đủ, thậm chí theo tập san phụ nữ Trung Quốc còn dùng cả một số nông sản lương thực có tác dụng chữa bệnh ung thư: khoai lang, tỏi, gan động vật, cà chua, nấm, cải trắng, cà rốt, ngô, măng lau... Rồi các tác phẩm của công ty Vision International People Group với cách làm mua bán bán hàng đa cấp.

Tôi tẩn mẩn ghi chép, là bác sỹ trước kia thì để ý chữa bệnh cho bệnh nhân, nay lại là bệnh nhân tôi lại càng để ý hơn. Tôi nghe bác sĩ, nghe cả sự trải nghiệm của người bệnh, như một người học trò cầu thị, không lười nhác.

Bà thím tôi là Nguyễn Thị Quý, giảng viên hơn 80 tuổi, vẫn đều đặn cắt những bài thuốc đăng trên các báo gửi đến cho tôi.

Có lần cùng sinh hoạt câu lạc bộ thơ Hải Thượng của các nhà y khoa tại Viện kiểm nghiệm Dược T. W,48 Hai Bà Trưng, HN, giáo sư Lê Văn Truyền nguyên thứ trưởng Bộ y tế, đã tặng tôi cuốn sách mới in " Dược thứ quốc gia Việt Nam" dùng cho tuyến y tế cơ sở. Tôi còn nhắc chính anh đã thay Bộ trưởng ký đồng ý về việc cho phép sinh sản và lưu hành thuốc Phylamin trong nước (số 654/BYT-QĐ ngày 11/8/1994).

Từ những ngày đầu xạ trị tôi đã được dùng liều cao 16 viên 1 ngày, cái liều chỉ định đặc biệt ngoại lệ là nhờ lần GS Lê Thế Trung đến thăm tôi đã mong muốn, nhờ tính cách mạnh mẽ dám nghĩ, dám quyết, dám làm, dám chịu bổn phận trong công việc ấy, chẳng thế mà ông là Anh hùng LLVT GS TSKH.

Phylamin là một bài thuốc Nam theo kinh nghiệm dân gian trong nhóm đề tài KY.02.09: "nghiên cứu một số vị thuốc Namcó tác dụng trợ giúp chữa trị ung thư" (Thực nghiệm và lâm sàng). Ngay từ những năm 1987 - 1990 đã được Bộ Quốc phòng trợ giúp, với các thuốc K1.K2,K3,K4,K5, sau khi đã kết quả tốt gây mô hình ung thư thực nghiệm từ 1983-1986 tại Học viện Quân y. Tập thể tìm hiểu của các GS.TSKH Lê Thế Trung, Trần Đức Thọ, Trần Văn Hanh, TS Trần Thanh Dương, PGS.Ts Lê Văn Thảo và các cộng sự của Học Viện Quân Y, trọng tâm nghiên cứu vận dụng các sản phẩm nông hóa Viện bảo vệ sức khoẻ người cao niên tiến hành nghiên cứu thành phần hoá học của Phylamin nhận thấy Phylamin tập kết một hàm lượng lớn, phong phú các chất có hoạt tính sinh học như: Flavonoid, các vitamin nhóm B, C, PP... các axit amin cần thiết cho toàn thân: Cystein, Arginin, Glutamic, Arspartic, Prolin, Tyrosin, Methionin, Norlencin, đặc biệt có các nhân tố vi lượng: Se,Cu,Fe, Mn,Zn.

xem xét đã chứng minh Phylamin có tác dụng tăng cân, tăng cơ lực, tăng thể lực, hạ cholesterol và triglycerid máu, tăng protein máu toàn phần và hemoglobin máu, tăng cường khả năng miễn dịch tế bào, chống giữ bức xúc của thân thể và môi trường. Phylamin hoạt hoá đại thực bào và các lympho bào, tuy nhiên tăng cường khả năng trừ diệt các tế bào ung thư, có tác dụng ức chế sự phát triển khối u. Hơn nữa, dùng Phylamin hiệu quả, không độc, chưa thấy tác dụng phụ và tương tác thuốc.

 (Còn tiếp)

Kỳ 5 :     "SÓNG GIÓ…."

Hơn 3 tháng chữa trị xạ trị ở bênh viện K từ 6/9/1995 đến 22/1/1996, những tác dụng phụ của tia xạ càng ngày càng rõ, hai tai, mắt, cổ tôi xạm đen dần. Mặc dầu được bôi thuốc phòng chống bỏng, thuốc che chở răng, nhưng cái cảm giác rát bỏng niêm mạc bên trong hốc mũi, họng, thực quản, bực tức như những ngày mưa hanh độ ẩm thấp, như thể sắp bong ra được. 

Tình trạng sức khỏe của tôi lúc này thật tối tăm. Sinh hoạt ăn uống rất khó khăn, miệng khô. Có những khi bụng đói mềm, thèm ăn nhưng không nuốt nổi, mất hết vị giác. Tai ù, mắt mờ đi, cảm giác chuyếnh choáng mất thăng bằng thi thoảng xuất hiện. Tôi cũng đã hình dung ra trước đó tình trạng này tôi có khả năng gặp. Là một bác sỹ, tôi cũng gặp rất nhiều người mắc bệnh phải vật lộn với những tác dụng phụ sau điều trị tia xạ, nhưng tôi không nghĩ nó lại khủng khiếp đến như vậy. Sau chữa trị tia xạ, hệ thống đề kháng thân thể sẽ suy giảm rất nhiều nên gây ra những hiện tượng như viêm loét vùng chiếu xạ. sự trải nghiệm cho thấy nên thường dùng những thuốc có tác dụng làm tăng cường miễn dịch để hạn chế kết quả này. Tôi chọn Phylamin vì tác dụng chống suy giảm miễn dịch tốt. Rồi theo thời gian, sức khỏe của tôi cũng dần phục hồi, u tại chỗ tan đi, hạch góc hàm nhỏ lại, các triệu chứng trên cũng không còn nữa. 

Có chút sức khỏe, tôi lại tiếp tục việc làm khám chữa bệnh và giảng dạy sinh viên. Những ngày này thật hạnh phúc êm ả, mới thấy giá trị khôn cùng của cuộc sống. Ngoài công việc chuyên trị, tôi dành thời gian làm nhà, săn sóc cả nhà, vợ con, vui vẻ cùng bầu bạn như người từ "cõi chết" trở về. 

Nhưng sự thật éo le vẫn chưa dừng lại, chưa đầy 3 năm sau, tôi buộc phải vào viện khoa Tai - Mũi - Họng và khoa A7 bệnh viện 103 chữa trị với chẩn đoán K vòm họng tái phát từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1999. Tôi được chỉ định điều trị phối hợp tia xạ và hóa chất. 

Lần trước hết dùng liều hóa chất, tôi cứ ngỡ như ruột gan góc dày lộn ngược, nôn ọe, thuốc chống nôn cũng không có tác dụng, phải dùng thuốc ngủ. Hai năm sau (2002) tôi lại bị choáng phải cấp cứu vì bệnh cao áp huyết. Bệnh nọ chưa dứt đã "xọ" bệnh kia, kêu than liệu hữu ích gì, tôi lại nhẫn nại điều trị, không ngày nào không phải uống thêm thuốc dự phòng cao áp huyết. 

Sau khi ra viện ở tuổi 55, tôi chủ động xin thôi lãnh đạo điều hành chỉ làm chuyên viên, dạy học. Vẫn là cái "số có duyên" với... bệnh viện, chỉ một giai đoạn ngắn "tại ngoại hậu cứu" tôi lại phải chữa trị tại khoa A7 bệnh viện 103 với chuẩn đoán là nhược sản tủy ở người bệnh tiếp xúc phóng xạ, suy yếu thần kinh, K vòm họng, tăng HA độ 3 GĐ 2, đã có lần tôi mất hướng tự ngã do tình trạng cướp máu não. Sóng gió chưa dừng, đến năm 2004, khoa A1 bệnh viện 108 chữa trị chẩn đoán tôi bị thiếu máu cơ tim cục bộ thành trước, mỏm tim vách liên thất do suy mạch vành, chỉ định đặt Stend.

Kỳ 6: "NIỀM TIN VÀ trông chờ"

Cứ thế, có bệnh thì phải chữa, tôi vào viện, ra viện, lặp đi lặp lại như cơm bữa. Sự để ý của mọi người cũng nhạt dần, có khả năng vì tôi cũng ngại. Đã hơn 30 lần phải ra vào các bệnh viện với người bị ung thư đa bệnh do làm nghề gặp mặt với phóng xạ độc hại. Tôi "sống chung với bệnh" cũng đầy gian nan, trắc trở.

Có những lúc trơ trọi "thấy mùi đất thơm thơm, thấy mùi cơm ngai ngái" tôi lại bừng tỉnh, tự nhủ. Hãy tin vào khoa học, tin vào y khoa, vào các bệnh viện, các thầy thuốc chuyên ngành phòng chữa ung thư. Có những lúc mỏi mệt, uể oải muốn mà không thể ngồi dậy được, tôi nghĩ ra bài tập thể thao nằm trên giường, khi uống thuốc đắng lại nghĩ đến kẹo ngọt quên đi, lấy đau chỗ này làm giảm đau chỗ khác. Tôi chữa Đông, Tây y kết hợp. Biết mình, biết bệnh để lựa mà sống, ăn mà sống thì tôi ăn, ăn mà chết thì tôi kiêng. Uống mà sống thì tôi uống, uống mà chết thì tôi khước từ. Tôi thích tiến công nhưng quên không phòng thủ. Vui lạc quan là chính "một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ", tôi làm ấu thơ, viết văn, sáng tác bài hát. Tôi luôn cho rằng quỹ thời gian của người bị ung thư là có hạn, tôi tranh thủ lo nhà cửa cuộc sống cho vợ con, tổng kết thế cục làm thầy giáo, bác sĩ.

khi đó tôi chợt có cảm thấy thấu hiểu ý nghĩa của câu "sướng khổ tại tâm". tâm trí tôi thanh thản vô tư, đi đâu cũng như về nhà, mừng rỡ cùng nhiều người trong các câu lạc bộ thơ ấu, Văn hoá. Tôi làm tư vấn nhân đạo sức khoẻ trợ giúp người bệnh không lấy tiền. cuộc sống sẽ thật chẳng ý nghĩa nếu không còn niềm tin và hy vọng. Với người khoẻ mạnh, họ tin tưởng và không vô vọng vào những mai sau tươi sáng, những ước mơ sẽ trở thành hiện thực.

Còn với một bệnh nhân như tôi, vượt qua bệnh hoạn và lấy lại được sức khoẻ chính là mục tiêu, thử thách cần vươn tới. Là người lính, tôi cũng có nhiều huân huy chương và danh vọng, nhưng có lẽ liều thuốc quý hơn cả là lời giục giã, khích lệ ý thức của bác Võ Nguyên Giáp: "là bác sĩ chiến sỹ, thầy giáo, nhà khoa học, đồng chí đã vượt mọi gặp khó, đem hết tâm đức trí óc cống hiến cho ngành y và săn sóc người mắc bệnh". Bác đã dặn tôi: "Tiếp tục lạc quan yêu đời, thắng lợi bệnh tật để làm việc tốt, làm thơ ấu hay". Câu nói dễ dàng của người từng là Đại tướng, tổng tư lệnh QĐNVN ấy, đã tiếp sức cho tôi thật nhiều trong quyết tâm sống, chữa bệnh và làm ăn.

»12 tiếng đồng hồ cứu lấy khuôn mặt người phái nữ xấu số

»9 loại rau quả chữa bệnh tiểu đường cho hiệu quả bất ngờ

Xem Thêm

    Không có nhận xét nào :

    Đăng nhận xét