Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

Giáo viên phải “chín” cùng công nghệ

Không có nhận xét nào :


Giáo dục - Khuyến học


Chủ Nhật, 24/08/2014 - 00:05

Đề án đưa máy tính bảng vào trường học:



Giáo viên phải “chín” cùng công nghệ





(Dân trí) - Ngay đến soạn bài trên phần mềm Powerpoint mà nhiều thầy giáo không làm được vì chưng không đủ kỹ năng sử dụng máy tính chất để soạn giáo án điện tử may phat dien kipor may phat dien kipor Công Nghệ . Khi đổi thay phương pháp dạy học tiên tiến, cần chú trọng bổ dưỡng người thầy “chín” cùng công nghệ. >> Đưa máy tính chất bảng vào trường học: Nhiều điều cần làm rõ >> Đại diện Bộ GD-ĐT lên tiếng về dự án 4.000 tỷ mua máy tính chất bảng

ThS Lê Thị Lan Anh - Phó Viện trưởng Viện Phát triển Giáo dục và Trí tuệ Việt (IEDV) chia sẻ,đề án sách giáo khoa (SGK) điện tử của TPHCM đang nhận nhiều làm phản hồi khác nhau ở danh thiếp góc cạnh như: đồng bộ hóa cơ sở đánh vật chất, trang thiết bị, chất lượng máy tính chất bảng (MTB), danh thiếp hình ảnh minh họa trong từng bài học, ảnh hưởng của việc sử dụng MTB luôn luôn đến trẻ em, tính chất khả thi của đề án… Với vai trò là người làm trong lĩnh vực giáo dục, điều động ThS Lê Thị Lan Anh đặc biệt quan tâm chính chất lượng GV.




Thạc sĩ Lê Thị Lan Anh
Thạc sĩ Lê Thị Lan Anh.


"Cưỡi hoả tiễn xem hoa"



Phóng viên:Nhiều nhà quản lý, hiệu trưởng tại TPHCM tỏ ra tâm đầu ý hợp với đề án SGK điện tử. Tuy nhiên, mối bận tân chung của họ chính là khả năng quản lý lớp học của GV với SGK điện tử được mệnh hóa trong MTB khi GV chỉ có 2 tuần để tập huấn sử dụng trang thiết bị và danh thiếp phần mềm. Bà nghĩ sao về điều động này?



Bà Lê Thị Lan Anh:Trong5 điều động kiện để triển khai SGK điện tử màông Hứa Ngọc Thuận - Phó Chủ viên tịch UBND TPHCM phát biểu trong hội thảo ngày 18/7, tôi quan hoài đến nhân tố thứ 2:Phải có chương trình, kế hoạch đào tạo, bổ dưỡng hàng ngũ cán bộ quản lý giáo dục vàGV ăn nhập để có trạng thái làm chủ được thiết bị công nghệ hiện đại, áp dụng nhuần nhuyễn thủ pháp dạy học mới và khai thác hiệu quả SGK, học liệu điện tử.



Trước tiên, hàng ngũ quản lý danh thiếp cấp trong hệ thống giáo dục từ Ban giám hiệu danh thiếp trường, Phòng Giáo dục, Sở Giáo dục… phải là những người hiểu hơn ai hết về phần mềm SGK điện tử. Họ phải sâu sắc cấu tạo, đặc trưng, bản tính của từng bài giảng được mềm hóa trong MTB.

Tôi đặt giả sử, nếu người làm quản lý chưa được tập huấn, chưa kịp hiểu hoặc hiểu chưa đầy đủ thì sẽ rất tai hại. Hàng năm chúng ta vẫn có danh thiếp cuộc thi GV giỏi danh thiếp cấp, chúng ta sẽ đánh giá như chất lượng GV ra sao, quy đệ trình đánh giá mà GV liệu có đổi thay khi phần mềm này chính mình cũng chưa kịp hiểu hết.

Thứ hai, về công tác đào tạo GV, theo dự án đồng cân có 2 tuần để tập huấn biện pháp dạy học ở lớp học thông minh mà SGK được số hóa trong MTB, tôi khẳng định vững chắc rằng, tập huấn kiểu này chẳng khác gì “cưỡi hoả tiễn xem hoa”. Khi đi máy bay, bay biến qua một rừng hoa đẹp, hoạ chăng bạn mới kịp ngắm một chút đỉnh màu sắc bên dưới, nhưng tên lửa phóng đi, bạn thậm chí không kịp nhận ra đó là một rừng hoa.

Để đổi thay một biện pháp dạy học không thể trong càng ngày càng ngày hai. Theo bà, những khó khăn GV có thể gặp phải khi chuyển từ biện pháp dạy học truyền thống sang một phương pháp hoàn trả toàn mới?



Hiện nay, khi chưa có phần mềm SGK điện tử, GV thường giảng với 2 phương pháp: (1) lẻ loi thuần dùng bảng đen phấn trắng và (2) dùng giáo án điện tử. Giáo án điện tử này cốt tử biên soạn bài trên phần mềm Powerpoint - một áp dụng khá phổ quát trên máy tính.

Thế nhưng, tỷ lệ GV soạn bài trên phần mềm Powerpoint và giảng văn bằng giáo án điện tử không phổ quát trong các bậc học mầm non, tiểu học. Lý vì chưng thì có nhiều, trong đó có một lý vì quan trọng là không phải GV tiểu học nào cũng có đủ kỹ năng để sử dụng máy tính, để biên soạn giáo án điện tử chứ chưa nói đến việc đổi thay thủ pháp giảng dạy khi sử dụng giáo án điện tử.


Việc dạy học đồng cân thật sự hiệu quả khi người thầy tự tin với khả năng, thủ pháp của mình
Việc dạy học chỉ thật sự công hiệu khi người thầy tự tin với khả năng, biện pháp của mình.


Để có một bài giảng hay, quyến rũ với học trò, người GV không tiền giỏi chuyên trị mà phải rất nhuần nhuyễn danh thiếp kỹ năng đứng lớp. Như vậy, nếu đồng cân với 2 tuần để thay đổi hoàn trả toàn thủ pháp giảng dạy từ bảng đen phấn trắng sang sử dụng phần mềm - chẳng khác nào “ép” nhau - mà bản chất là “chạy” cho kịp tiến độ.



2 tuần đồng cân đủ thời gian để GV làm quen ở mức độ căn bản nhất về phần mềm SGK điện tử, làm quen với các thao tác kỹ thuật trên máy, làm quen với các nội dung mới mẻ khác với sách in bình thường chứ chưa thể soạn giáo án, chưa thể làm chủ công nghệ, lại càng chẳng thể chỉ dẫn học trò một cách nhuần nhuyễn - như biện pháp giảng dạy cũ mà danh thiếp cô từng dạy nhiều năm nay.

Tôi tin vững chắc rằng, không ít GV sẽ chán nản khi bị ép phải dạy trong tình trạng chính mình còn làm ngơ nằm mơ như thế - đặc biệt với những GV hiếm khi hoặc chưa bao giờ dùng máy tính.

Mô hình lớp học sáng ý góp phần giải quyết tình trạng đọc - chép, HS chủ động mày mò, nhà giam phá với sự hỗ trợ của công nghệ. Ở đó, chúng ta cần hiểu như thế nào về vai trò của người thầy?



Trong bất kỳ lớp học nào - mặc dầu là lớp học sáng ý hay không thông suốt minh - GV luôn đóng vai trò là linh hồn, là người chủ động truyền đạt kiến thức đến học trò. Khi GV chưa đủ “chín” cùng công nghệ sẽ ảnh hưởng cực lớn đến chất lượng dạy và học.

Khầy cô rơi vào thể thụ động thay do chủ động, thăng hoa, tự tín truyền đạt kiến thức cho học sinh như trước đây có trạng thái dẫn đến rất nhiều tính huống: GV bị áp lực tâm lý một cách không đáng có khi loay hoay với kỹ thuật và công nghệ, “bỏ quên” mất việc mình phải dạy gì, tình trạng cháy giáo án rất có thể sẽ diễn ra thường xuyên.

Công nghệ khi đó sẽ được dùng một cách chiếu lệ, qua loa, dùng cho có theo đề nghị để khỏi bị phê bình, khỏi bị chê bai là “gà công nghệ”, là tụt hậu. Hoặc công nghệ sẽ trở thành “đồ trang trí” thầy có có trạng thái lúng túng, khó xử khi thao tác kỹ thuật sai, hướng dẫn HS nhầm. Rồi chúng ta phải đặt ra áp giải pháp nào cho GV khi lớp học mất điện, mất internet?



Khi người thầy chưa chủ động với công nghệ thì sẽ tạo ra sự lãng phí chỉ bạc, lãng phí tài nguyên kiến thức rất lớn. Đề án sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi triển khai theo bại lộ trình phù hợp, tập huấn đào tạo GV kỹ lưỡng. Quy trình kiểm tra, giám trung thành và cấp chứng tiền nghiêm túc. Phải có phương án bổ sung, thay thế GV khi GV chưa đáp ứng được yêu cầu dạy theo phương pháp mới.

Cần hàng ngũ giáo viên tiên phong về công nghệ



GV của chúng ta hạn chế về công nghệ là một thiệt thòi rất lớn cho học trò?



Như tôi đã phân điển tích ở trên, khi GV không làm chủ được công nghệ, hệ quả nặng nề nhất bởi học trò gánh chịu. Ngay cả trong nền giáo dục hiện tại - khi chưa có đề án SGK điện tử - việc GV không tiếp xúc với công nghệ, không sử dụng công nghệ để tìm kiếm nguồn tài nguyên, tạo dữ liệu chừng phong phú cho bài giảng… cũng đã khiến học trò chịu nhiều thiệt thòi.

Dường như chúng mình đang rơi vào luẩn quẩn: GV yếu công nghệ, còn học trò chẳng thể bắt danh thiếp em chờ thế hệ GV thành thục về công nghệ mới tiếp cận danh thiếp phương pháp, những cải cách tiên tiến. Bài Toán này theo bà, cần áp điệu quyết thế nào?



Đúng vậy, học trò chẳng thể chờ một đời GV thành thục công nghệ. Vì thế chúng ta phải có những dẫn giải pháp phù hợp.


Trước mắt, tổ chức các khóa đào tạo cơ bản về kỹ năng sử dụng máy tính cho GV chưa từng biết về máy tính. Các thuật cơ bản trong khi sử dụng Word, Excel, Powerpoint…trong soạn giáo án điện tử, tìm kiếm tài liệu, khai khẩn tài nguyên mệnh hóa trên Internet.



Đào tạo nâng cao, chuyên sâu các kỹ thuật máy tính chất trong biên soạn giáo án cho đội ngũ GV từng thực hành, biết về công nghệ. Khuyến khích GV sử dụng thuần thục máy vi tính tham gia vào các diễn đàn thảo luận bài giảng trên internet để luôn luôn trau dồi, nâng cao đệ trình độ của bản thân.

Xây dựng lực lượng tinh hoa tại chỗ, đào tạo đội ngũ GV tiên phong là điều động rất cấp thiết để giải quyết vấn đề. Đội ngũ này cần được tuyển chọn khe khắt với danh thiếp đề nghị giỏi về chuyên môn, thành thạo máy tính chất (để có trạng thái đào tạo nâng cao). Hơn nữa, gia tộc cần có chế độ chính sách đặc biệt để chuyên chú phát triển chuyên môn, làm chủ công nghệ, từ đó trở nên lực lượng nòng chủ yếu huấn luyện cho những GV chưa có kinh nghiệm khác.

Về lâu dài, vẫn là chất lượng đào tạo trong các trường sư phạm phải được chú trọng. Sinh viên ra trường học bên cạnh chuyên môn, cần thành thục các kỹ năng vi tính chất văn phòng, dùng công nghệ trong công việc - một điều động tối neo người giản nhưng rất ít SV của chúng mình làm được.
Tuy nhiên, GV chỉ là một trong những nhân tố cho những bước đổi mới. Các yếu tố quan trọng không kém chính là quyền lợi của học sinh, phụ huynh. 



Trân trọng cám ơn bà!



Hoài Nam(thực hiện)
 

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét